Cứᴜ người Mỹ bị bắɴ rơi năm 1975, ông bị cả làng mắng chửi xa lánh vì “ɢɪúᴘ ɢɪặᴄ”. Ai ngờ 49 năm sau, phi công ấy quay lại báo đáp ân nhân khiến ai cũng nghẹn ngào… –

Tin Tức

Cứᴜ người Mỹ bị bắɴ rơi năm 1975, ông bị cả làng mắng chửi xa lánh vì “ɢɪúᴘ ɢɪặᴄ”. Ai ngờ 49 năm sau, phi công ấy quay lại báo đáp ân nhân khiến ai cũng nghẹn ngào…

 

Buổi chiều tháng Năm ấy, nắng vàng vọt đổ xuống con đường đất đỏ trước hiên nhà tôi, tôi đang bổ củi thì nghe tiếng xe máy phanh gấp. Tim tôi thắt lại khi Hưng – thằng cháu làm hướng dẫn viên – lao vào, mặt cắt không còn giọt máu: “Bác Lâm ơi! Có khách từ Mỹ về tìm bác… Ông ấy nói tên bác đúng từng chữ!”

Tôi buông rìu, tay run đến mức lưỡi rìu cắm phập xuống đất. Một ông già cao lớn, tóc bạc trắng, bước chậm rãi trên con đường quen thuộc. Trong tay ông là chiếc hộp gỗ cũ kỹ. Ánh mắt chúng tôi chạm nhau. Khoảnh khắc ấy, cả 49 năm sụp đổ như một tảng đá lớn lăn xuống đèo. Tôi đứng chết trân, cổ họng nghẹn cứng, không thở nổi.

Ông ta tiến lại gần, mở hộp gỗ bằng đôi tay run run. Bên trong là con dao thép nhỏ khắc hình ngọn đèo An Khê và chiếc túi vải đỏ thêu bông lúa. Giọng ông nghẹn ngào, tiếng Việt lơ lớ nhưng rõ từng chữ: “Cảm ơn… anh Lâm.”

Tay tôi chạm vào lưỡi dao lạnh buốt. Mùi kim loại và ký ức ùa về như sóng dữ. Đúng là con dao tôi tự tay rèn, tự tay khắc, đưa cho ông năm 1975. Nước mắt nóng hổi lăn dài trên má tôi già nua. Tôi, Nguyễn Văn Lâm, người gác đèo An Khê, chưa từng khóc trước mặt ai sau ngày ấy. Nhưng hôm nay, tôi khóc như đứa trẻ.

Và tôi biết, mọi thứ bắt đầu từ cái chiều tháng Năm năm 1975, khi nắng đèo như đổ lửa.

Lúc đó tôi 27 tuổi, là dân quân địa phương. Vừa tuần tra xong, mồ hôi ướt đẫm áo, tôi nghe tiếng máy bay rú lên rồi một tiếng nổ kinh hoàng vang vọng khắp núi rừng. Khói đen bốc cao ngùn ngụt từ sườn núi cách đó không xa. Một chiếc trực thăng Mỹ bị bắn rơi. Tim tôi đập thình thịch. Tôi biết rõ, nếu không nhanh, phi công sẽ chết thảm hoặc bị bắt.

Chân tôi chạy trước khi óc kịp nghĩ. Xác máy bay gãy nát, mùi dầu cháy khét lẹt xộc vào mũi khiến tôi nôn nao. Bên trong, một người Mỹ cao lớn bị kẹt dưới thanh sắt, vai và chân chảy máu lênh láng. Ông ta nhìn tôi, đôi mắt xanh đầy kinh hoàng và tuyệt vọng. Lúc ấy, trong đầu tôi chỉ vang lên một câu: “Anh ta cũng là con người.”

Tôi ra hiệu im lặng, dùng hết sức gỡ thanh sắt kẹt chân ông. Máu nóng của ông dính đầy tay tôi. Tôi xé vạt áo mình băng bó tạm, rồi dìu ông vào rừng sâu. Tiếng tuần tra đối phương vang vọng khắp nơi. Chúng tôi men theo khe núi, lội suối, trốn trong bụi rậm. Mỗi bước chân của Thomas đều đau buốt, nhưng ông cắn răng không kêu. Tôi nhai lá thuốc rừng đưa cho ông, vị đắng ngắt lan trong miệng.

Đêm ấy, chúng tôi ẩn trong một lán lá cọ bí mật giữa lòng núi. Mưa rừng bắt đầu rơi. Tôi ngồi canh, súng đặt ngang đùi, tai lắng nghe từng tiếng động. Thomas chỉ vào ngực mình: “Thomas.” Tôi gật đầu: “Lâm.” Chúng tôi không chung ngôn ngữ, nhưng nỗi sợ chết và khát khao sống thì giống nhau.

Tôi không biết rằng, quyết định cứu ông hôm đó sẽ là khởi đầu của một địa ngục kéo dài gần nửa thế kỷ cho chính tôi và gia đình.

Những ngày sau là cơn ác mộng thực sự. Tôi phải di chuyển Thomas giữa các lán bí mật, mỗi lần đều như đánh cược mạng sống. Vết thương ông nhiễm trùng nặng, sốt cao li bì. Tôi thức trắng mấy đêm liền, giã lá thuốc dưới ánh đèn dầu leo lét, thay băng cho ông bằng những mảnh vải sạch nhất tôi có. Có đêm mưa rừng trút nước như thác, chúng tôi phải rời lán khẩn cấp giữa màn đêm. Thomas khập khiễng theo sau, chân đau đến run rẩy. Tôi dìu ông lội suối nước lạnh buốt thấu xương, phát rìu mở đường. Mấy lần tuần tra suýt phát hiện, chúng tôi nằm im thin thít trong bụi rậm, tim đập thình thịch đến mức tôi sợ họ nghe thấy.

Tôi giấu kín gia đình. Vợ tôi, Lan, lúc ấy đang mang thai con gái đầu lòng, bụng đã lớn. Bà chỉ biết tôi “đi tuần dài”. Mỗi lần về nhà lấy ít gạo, ít muối, tôi phải nói dối rằng đang làm nhiệm vụ đặc biệt. Mẹ vợ tôi thì hay nghi ngờ, hay xì xầm với hàng xóm rằng “thằng Lâm chắc giấu diếm chuyện gì rồi”. Những lời đồn thổi bắt đầu lan ra. Có người bảo tôi thông đồng với Mỹ, có người bảo tôi nhận vàng của phi công. Tôi im lặng chịu đựng, vì nếu nói ra, không chỉ tôi mà cả làng, cả vợ con sẽ gặp họa.

Thomas cố học vài từ tiếng Việt. “Cảm ơn… Lâm.” Ông mang theo tấm ảnh vợ con, chỉ cho tôi xem. Tôi cũng lấy ảnh vợ tôi ra. Chúng tôi ngồi bên bếp lửa nhỏ, vẽ nhà cửa trên nền đất ẩm. Ông vẽ ngôi nhà hai tầng mái dốc ở Mỹ, tôi vẽ nhà sàn quê hương. Dù cách xa nửa vòng trái đất, chúng tôi đều chỉ muốn một điều: trở về với người thân yêu.

Ngày thứ 23, tôi nhận tin khu vực không còn an toàn. Phải đưa Thomas ra điểm trao đổi tù binh. Trước khi đi, tôi đưa ông con dao tôi tự rèn khắc hình ngọn đèo và chiếc túi vải đỏ thêu bông lúa mà vợ tôi tặng tôi ngày cưới. “Giữ an toàn,” tôi nói vụng về, giọng khàn đặc.

Chúng tôi chia tay ở rìa rừng. Thomas nắm tay tôi thật chặt, mắt đỏ hoe: “Tôi sẽ tìm anh.” Tôi chỉ gật đầu, quay lưng bước sâu vào rừng. Không dám nhìn lại. Vì nếu nhìn, tôi sợ mình sẽ khóc như con nít……